Bối cảnh
Minh Mạng là con thứ tư của vua Gia Long, lên ngôi năm 1820. Thời Gia Long, đất nước tuy đã thống nhất nhưng Bắc Thành và Gia Định Thành do các tổng trấn nắm quyền rất lớn, gần như tự trị. Minh Mạng là người giỏi chữ, chăm chính sự, muốn xây dựng một nhà nước quân chủ tập quyền mạnh, mọi việc đều do triều đình trung ương quyết định.
Bên cạnh đó, lãnh thổ quốc gia lúc này đã trải dài từ biên giới phía bắc đến mũi Cà Mau, gồm nhiều vùng có phong tục, lịch sử khác nhau. Việc quản lý một đất nước rộng lớn như vậy đòi hỏi một hệ thống hành chính đồng bộ, rõ ràng hơn so với thời kỳ đầu nhà Nguyễn.
Những cải cách lớn
Trong hai năm 1831 – 1832, Minh Mạng tiến hành cuộc cải cách hành chính quy mô nhất của nhà Nguyễn: bãi bỏ Bắc Thành và Gia Định Thành, chia cả nước thành khoảng ba mươi tỉnh cùng phủ Thừa Thiên ở kinh đô. Mỗi tỉnh đặt các chức tổng đốc, tuần phủ, bố chính, án sát, quản lý theo một mô hình thống nhất. Nhiều tên tỉnh hình thành từ đây vẫn còn được dùng đến ngày nay.
Ở trung ương, nhà vua lập Nội các và Cơ mật viện để giúp việc, hoàn thiện Lục bộ, đặt lệ kiểm tra chéo giữa các cơ quan và yêu cầu quan lại tấu trình bằng văn bản. Những lời phê bằng mực son của vua trên các văn bản ấy, gọi là châu phê, nay còn lưu trong kho Châu bản triều Nguyễn.
Năm 1838, Minh Mạng đổi quốc hiệu từ Việt Nam thành Đại Nam, với hàm ý một nước Nam rộng lớn (một số tài liệu ghi năm 1839). Quốc hiệu này được dùng trong văn bản chính thức cho đến cuối thời nhà Nguyễn.
Kinh thành Huế và ý nghĩa
Kinh thành Huế được khởi công từ năm 1805 dưới thời Gia Long và cơ bản hoàn thiện dưới thời Minh Mạng, với hệ thống thành lũy, Hoàng thành, Tử Cấm thành và nhiều cung điện. Thời Minh Mạng còn đúc Cửu đỉnh đặt trước Thế Tổ Miếu và xây nhiều công trình quy mô; lăng Minh Mạng (Hiếu lăng) được hoàn thành sau khi ông mất.
Năm 1993, Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới. Các cải cách của Minh Mạng giúp bộ máy nhà nước chặt chẽ, thống nhất hơn; song đường lối bảo thủ, khép kín với phương Tây và chính sách cấm đạo Thiên Chúa của ông cũng là vấn đề được giới sử học đánh giá nhiều chiều.