Bối cảnh
Sau khi các cuộc khởi nghĩa của nhà Hậu Trần bị dập tắt, nhà Minh siết chặt ách cai trị trên đất Đại Việt. Thuế khóa nặng nề, dân phải lao dịch khổ sở, văn hóa bị chèn ép. Lòng căm phẫn lan rộng, nhưng phong trào cần một người lãnh đạo có uy tín và một căn cứ vững chắc.
Lê Lợi là một hào trưởng giàu có ở vùng Lam Sơn, có tiếng hào hiệp, thương người. Ông từ chối làm quan cho nhà Minh, bí mật chiêu tập hào kiệt, tích trữ lương thực và vũ khí. Theo sử cũ, năm 1416 ông cùng một nhóm tướng thân tín tổ chức hội thề ở Lũng Nhai, nguyện cùng nhau đánh giặc cứu nước.
Dựng cờ khởi nghĩa
Đầu năm 1418 (âm lịch là đầu xuân năm Mậu Tuất), Lê Lợi chính thức dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn, tự xưng là Bình Định Vương và truyền hịch kêu gọi nhân dân đứng lên. Lực lượng ban đầu còn nhỏ, gồm chủ yếu người Việt và người Mường ở vùng núi Thanh Hóa.
Trong những năm đầu, Nguyễn Trãi – một nho sĩ từng đỗ đạt thời Hồ – tìm đến Lam Sơn và dâng Bình Ngô sách, trình bày kế sách đánh giặc. Tư tưởng lấy dân làm gốc và chú trọng "đánh vào lòng người" của ông về sau góp phần quan trọng vào thắng lợi chung.
Những năm tháng gian khổ
Quân Minh nhiều lần mở cuộc càn quét lớn vào căn cứ Lam Sơn. Nghĩa quân nhiều lần phải rút lên núi Chí Linh, có lúc thiếu lương đến mức phải giết voi, ngựa để ăn. Theo sử cũ, trong một lần bị vây ngặt, tướng Lê Lai xin mặc áo bào của chủ tướng, dẫn một cánh quân xông ra để đánh lạc hướng giặc và hy sinh, giúp Lê Lợi thoát hiểm.
Khoảng năm 1423, Lê Lợi tạm hòa hoãn với quân Minh để củng cố lực lượng. Năm 1424, theo kế của tướng Nguyễn Chích, nghĩa quân chuyển hướng vào Nghệ An – vùng đất rộng, người đông – từ đó thế trận dần thay đổi.
Ý nghĩa
Từ một cuộc nổi dậy nhỏ ở miền núi, khởi nghĩa Lam Sơn dần phát triển thành cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, kết thúc thắng lợi vào cuối năm 1427. Những năm đầu gian khổ đã hun đúc tinh thần đoàn kết, ý chí bền bỉ và cách đánh linh hoạt của nghĩa quân.