Bối cảnh
Sau thất bại năm 1285, Hốt Tất Liệt bỏ kế hoạch đánh Nhật Bản để dồn sức đánh Đại Việt. Cuối năm 1287, Thoát Hoan lại dẫn quân tiến vào, cùng với cánh thủy quân do Ô Mã Nhi chỉ huy và một đoàn thuyền lớn chở lương thực theo đường biển do Trương Văn Hổ phụ trách.
Đầu năm 1288, Phó tướng Trần Khánh Dư đánh tan đoàn thuyền lương này ở vùng Vân Đồn. Mất nguồn lương, quân Nguyên chiếm được Thăng Long nhưng lâm vào cảnh đói thiếu, bị quân dân nhà Trần quấy rối khắp nơi, buộc phải tính đường rút về.
Trận địa cọc Bạch Đằng
Đoán được quân Nguyên sẽ rút theo đường thủy qua sông Bạch Đằng, Trần Hưng Đạo cho quân đẵn gỗ, đóng cọc nhọn xuống lòng sông ở những vị trí hiểm yếu, bên trên có cỏ nước che phủ. Đây là cách đánh từng được Ngô Quyền sử dụng năm 938 và Lê Hoàn năm 981.
Khi nước triều lên, quân Trần dùng thuyền nhẹ khiêu chiến rồi giả thua, nhử đoàn thuyền của Ô Mã Nhi tiến vào khu vực bãi cọc. Đến lúc nước triều rút, các cánh quân mai phục từ hai bên bờ và trên sông đồng loạt đánh ra. Thuyền giặc va vào cọc, bị vỡ, bị đắm hoặc bị đốt cháy.
Trận chiến kết thúc với thắng lợi hoàn toàn của quân Trần. Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp cùng nhiều tướng Nguyên bị bắt sống. Trong khi đó, Thoát Hoan dẫn quân bộ rút qua Lạng Sơn, liên tục bị phục kích và chật vật mới về được nước.
Ý nghĩa
Chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 khép lại ba cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên (1258, 1285, 1287 – 1288). Sau trận này, nhà Nguyên không mở thêm cuộc tấn công lớn nào vào Đại Việt. Nhà Trần một mặt giữ vững độc lập, mặt khác chủ động cử sứ giả nối lại quan hệ hòa hiếu.
Ba lần đánh thắng đội quân từng làm chủ nhiều vùng rộng lớn của châu Á được coi là một trong những chiến công vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc, đưa tên tuổi Trần Hưng Đạo trở thành biểu tượng của tài thao lược quân sự Việt Nam.